Truyền thuyết và phong tục các dân tộc Tây Bắc

Ðôi điều ngẫm ngợi về tính nhân văn

10:00 - Thứ Ba, 22/01/2019 Lượt xem: 2424 In bài viết

ĐBP - Tròn 1 năm sau Chiến thắng Ðiện Biên Phủ, ngày 7/5/1955 Khu Tự trị Thái - Mèo được thành lập, 7 năm sau Quốc hội khoá II ra nghị quyết đổi tên thành Khu Tự trị Tây Bắc. Trong số nhiều lý do, một lý do rất thực tiễn là tên gọi Khu Tự trị Thái - Mèo không những không bao hàm hết sắc thái văn hoá của gần 30 dân tộc thiểu số trên địa bàn; mặt khác, e rằng có thể gây ra những hiểu nhầm không đáng có, về sự bình đẳng giữa các dân tộc anh em...

 

Múa xòe Thái có trống và chiêng giữ nhịp.

Nếu coi Tây Bắc như một “ngôi nhà chung” thì trong “ngôi nhà chung” ấy có một nền văn hoá dân gian đa dạng, đặc sắc và vô tận. Cư trú ở vùng thấp là các dân tộc: Thái, Lào, Lự, Kháng... với gương mặt tiêu biểu về bản sắc là dân tộc Thái. Trong khi đó tầng cao hơn là nơi cư trú lâu đời của các dân tộc Mông, Dao, La Hủ, Hà Nhì, Si La, Khơ Mú... với gương mặt văn hóa đại diện là dân tộc Mông. Không hề đơn giản chút nào khi nói về văn hóa của cả một vùng rộng lớn, với mấy chục sắc tộc vừa đơn lẻ vừa thống nhất. Tuy nhiên, những gì được coi là đặc thù cũng đủ để chúng ta nhận diện tính chất của vùng văn hóa với những truyền thuyết nhân bản và vô cùng đặc sắc.

Theo ý kiến của bà Phạm Minh Châu, Trưởng phòng Văn hóa - Thông tin huyện Ðiện Biên: Cuộc sống tạo nên các sắc thái văn hóa và đến lượt mình, văn hóa làm cho cuộc sống phong phú hơn, lãng mạn hơn và ý nghĩa hơn. Còn gì lạ lùng cho bằng khi ta chứng kiến một người Kháng thản nhiên uống nước bằng... mũi (ta mui). Ðã thế, không phải uống loại nước bình thường mà là nước măng chua ngâm với tỏi sống, rau thơm nghiền nát, đổ vào quả bầu nậm, rồi cứ thế cho chảy vào mũi, trong khi miệng vẫn chén ngon lành các món khác. Cũng tộc người này có sở trường chế tạo thuyền độc mộc hình đuôi én, dáng đã đẹp lại bơi rất nhanh. Ðến mức người anh em Thái vốn là những cư dân cũng rất thạo nghề sông nước, vẫn phải thẳng thắn thừa nhận: “Thuyền tốt không ai bằng thuyền Kháng”. Trong văn  hóa vật thể, người La Ha nổi tiếng với “bộ sưu tập” trống đồng cổ. Ðồng bào quan niệm tiếng trống đồng chính là “ngôn ngữ đặc biệt”, giúp con người trần tục có thể tấu bày điều này điều kia lên các đấng thần linh.

Nhiều dân tộc Tây Bắc có lễ “Mừng măng mọc”, nhưng riêng người La Ha còn thể hiện sự độc đáo qua vũ điệu phồn thực giàu biểu cảm, trong âm thanh rộn rã của đàn ống, với những thiếu nữ chân nhún nhảy, miệng cười ngon như đọt măng vừa nhú. Trong số 21 dân tộc của nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme, dân tộc Mảng không chỉ độc đáo bởi tục xăm cằm ở phụ nữ, mà còn rất đặc trưng qua “đơn vị đo lường” của mình. Muốn đo chiều dài họ theo cách tính “con dao quăng” hoặc “khăn khô - khăn ướt”, đo trọng lượng tính theo “bỏng đuê”, mỗi “bỏng đuê” tương đương 20kg. Nếu tính số lượng (phép đếm số học), đồng bào áp dụng hình thức mỗi đơn vị ứng với một hòn sỏi. Nghe nói trước kia, thời chữ quốc ngữ chưa phát triển trong cộng đồng người Mảng, nhiều vùng bà con chỉ biết số đếm tối đa đến hàng triệu (triều me). Nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến có dân tộc tục gọi “Lá vàng”, với câu nói: “Núi cao bao nhiêu cũng nằm dưới bàn chân của người La Hủ”. Vẫn biết đấy chỉ là câu nói vô tư cửa miệng chứ không định “lập ngôn” để đời gì, nhưng nó hàm chứa khí phách của tộc người “Lá vàng” tận nơi thượng nguồn sông Ðà trên biên giới Việt - Trung; đó là 6 bản vùng bắc Ka Lăng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu ngày nay.

 

Biểu diễn khèn Mông.

Cũng nằm trong nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến, có dân tộc Si La với nhiều nét văn hóa rất đáng được các nhà nghiên cứu quan tâm. Trước hết, đó là tôtem độc đáo đến mức kỳ lạ về truyền thuyết giống nòi, khiến tất cả các dòng họ người Si La đều kiêng ăn thịt mèo. Ðiều đặc biệt trong tục lệ tang ma của dân tộc Si La thể hiện ở chỗ mỗi khi có người chết, gia đình lại tổ chức vui chơi, ca hát thay vì than khóc não nề. Người Si La theo đạo Phật và ở đây, triết lý “sinh ký tử quy” cho phép người sống hân hoan mỗi khi tiễn thân nhân mình “về” với tổ tiên (!). Xưa kia đàn ông Si La nhuộm răng màu đỏ, đàn bà nhuộm răng màu đen, nhưng rất tiếc ngày nay tập quán này không còn được duy trì ở bất cứ nơi đâu trong cộng đồng người Si La.

Nghệ nhân dân gian Mào Văn Ết - Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Ðiện Biên Phủ - cho biết: Trải qua quá trình hỗn dung và tiếp biến hàng trăm, hàng nghìn năm trên vùng nhiệt đới gió mùa Tây Bắc, phải nói không ít nền văn hóa tộc người đã và đang nhạt nhoà trước nền văn hóa từ các tộc người khác. Một trong những nền văn hóa có khả năng tạo ảnh hưởng nhiều nhất, đó là văn hoá Thái với rất nhiều trường ca, truyền thuyết, các điệu múa mà tiêu biểu là múa xoè. Ðể mô tả cuộc chinh phục vô vàn vinh quang nhưng cũng nhiều nỗi cay đắng của tổ tiên, người Thái có truyện thơ “Táy pú xớc” được lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Tại khu vực Nậm Pó (xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu), hiện còn con suối nước trong vắt, róc rách trong dòng chảy là câu chuyện kể về nàng Han như một “Gianđa Thái” tắm tiên. Ðó là một “thần vệ nữ” đánh giặc tài và cũng yêu như sẵn sàng đốt cháy mình lên. Các cụ già trong vùng quả quyết rằng dù đã hàng trăm hàng nghìn năm qua, nhưng đêm giao thừa nào nàng Han cũng hiện về tắm ở chỗ cũ vẫn với tấm thân ngọc ngà và hấp dẫn như xưa!

Trong số các truyền thuyết của dân tộc Thái, theo chúng tôi truyền thuyết về hoa Ban là câu chuyện nằm trong tốp hay nhất và giàu tính thiện nhất. Hơn một lần chúng tôi đã viết, rằng vì không chịu lấy tên chúa đất nên Ban bỏ nhà, bỏ bản quyết chí ra đi tìm Khun. Nàng vào rừng, đi mãi, gọi mãi mà chẳng thấy Khun đâu. Một chiều nọ, leo tới đỉnh núi thứ một nghìn thì Ban gục xuống trong đói khát, mệt mỏi và tuyệt vọng. Từ chỗ Ban nằm, bất ngờ mọc lên một loài cây với những cái lá trông như hình hai trái tim lồng lên nhau. Chỉ mấy hôm sau, cây trổ những cái nụ trắng hồng như ngón tay trinh nữ, những cái nụ lại nở ra những đóa hoa có nhị mang màu tím thủy chung, còn cánh thì trắng như màu ly biệt - đó là cây ban... Ngày Khun trở về không thấy Ban đâu, chàng đi tìm qua muôn ngọn núi, qua vạn ngả đèo. Cuối cùng Khun kiệt sức ngã xuống, biến thành con chim mà nay người ta gọi là chim Khun. Loài chim Khun sống lẻ loi trong rừng, không có bầy đàn, không có tổ, suốt ngày bay lang thang như kiếm tìm ai đó giữa hoang dã ngàn trùng. Quanh năm chim Khun im lặng, chỉ khi mùa xuân về, hoa ban nở thì nó mới hót. Tiếng hót chim Khun nghe như tiếng kêu khắc khoải lạc bầy, khi hoa ban tàn thì chim Khun cũng thôi không hót. Có lẽ nó lại dành thời gian vào việc kiếm tìm trong vô vọng, khổ đau...?

Trong phạm vi một bài viết ngắn, rất tiếc chúng tôi không thể điểm hết các thần thoại, truyền thuyết... dù chỉ của một dân tộc đơn lẻ trong đại gia đình các dân tộc Tây Bắc. Nói cách khác, viết về thần thoại, truyền thuyết... các dân tộc Tây Bắc là một việc rất lâu dài, rất khó khăn và cần đến trí tuệ, công sức của rất nhiều nhà nghiên cứu uyên thâm, tài giỏi và tâm huyết…

Hoàng Văn Công
Bình luận

Tin khác