Kinh tếTìm hiểu chính sách thuế

Hỏi đáp chính sách thuế

08:45 - Thứ Tư, 13/06/2018 Lượt xem: 469 In bài viết
Hỏi: Kể từ khi nhận văn bản đề nghị sử dụng hóa đơn tự in/đặt in của doanh nghiệp (DN) mà cơ quan thuế không có ý kiến bằng văn bản thì DN được sử dụng hóa đơn sau bao nhiêu ngày?

Trả lời:

Căn cứ Ðiều 1, Thông tư 37/2017/TT-BTC ngày 27/4/2017 của Bộ Tài chính Quy định

“Ðiều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính) như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung gạch đầu dòng cuối Ðiểm b, Khoản 1,  Ðiều 6 như sau:

“Có văn bản đề nghị sử dụng hóa đơn tự in (Mẫu số 3.14 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này) và được cơ quan thuế quản lý trực tiếp xác nhận đủ điều kiện. Trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản đề nghị của doanh nghiệp, cơ quan thuế quản lý trực tiếp phải có ý kiến về điều kiện sử dụng hóa đơn tự in của doanh nghiệp (Mẫu số 3.15 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này).

Trường hợp sau 2 ngày làm việc cơ quan quản lý thuế trực tiếp không có ý kiến bằng văn bản thì doanh nghiệp được sử dụng hóa đơn tự in. Thủ trưởng cơ quan thuế phải chịu trách nhiệm về việc không có ý kiến bằng văn bản trả lời doanh nghiệp”

2. Sửa đổi, bổ sung khổ cuối Ðiểm b Khoản 1 Ðiều 8 như sau:

“Trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị của tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan thuế quản lý trực tiếp phải có thông báo về việc sử dụng hóa đơn đặt in (Mẫu số 3.15 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này).

Trường hợp sau 2 ngày làm việc cơ quan quản lý thuế trực tiếp không có ý kiến bằng văn bản thì doanh nghiệp được sử dụng hóa đơn đặt in. Thủ trưởng cơ quan thuế phải chịu trách nhiệm về việc không có ý kiến bằng văn bản trả lời doanh nghiệp.”

Vậy kể từ khi nhận văn bản đề nghị sử dụng hóa đơn tự in/đặt in của DN mà cơ quan thuế không có ý kiến bằng văn bản thì DN được sử dụng hóa đơn sau 2 ngày làm việc.

Hỏi: Tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán chưa đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế vẫn đảm bảo điều kiện về chứng từ thanh toán qua ngân hàng để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 20 triệu đồng trở lên kể từ ngày nào?

Trả lời:

Căn cứ Thông tư 173/2016/TT-BTC ngày 28/10/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung khổ thứ nhất Khoản 3 Ðiều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/12/2016 quy định: “3. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán).”

Vậy quy định tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán chưa đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế vẫn đảm bảo điều kiện về chứng từ thanh toán qua ngân hàng để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 20 triệu đồng trở lên kể từ ngày 15/12/2016.

TTHT
Bình luận