Bất cập từ Chương trình 135/CP, giai đoạn 2013 - 2016:

Kỳ 1: Chưa “trúng” nguyện vọng người thụ hưởng

09:01 - Thứ Bảy, 29/04/2017 Lượt xem: 1850 In bài viết
ĐBP - Mục đích Chương trình 135/CP giai đoạn 3 đề ra là nhằm thay đổi nhận thức cho cán bộ công chức cấp xã và nhận thức của người dân về vai trò, tầm quan trọng của việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nâng cao đời sống người nghèo. Tuy nhiên, qua thực tế kiểm tra tại một số địa phương cho thấy hầu hết việc hỗ trợ cây, con giống, máy móc sản xuất nông nghiệp đều chưa “trúng” nguyện vọng người thụ hưởng. Điều đó không chỉ gây lãng phí nguồn lực đầu tư của Nhà nước mà còn nảy sinh nhiều hệ lụy tiêu cực...

Trong 4 năm (2013 – 2016), từ Chương trình 135/CP, toàn tỉnh được phân bổ hơn 93 tỷ đồng để mở 83 lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cây trồng, vật nuôi; nhân rộng 99 mô hình sản xuất; hỗ trợ gần 3.600 con gia súc; 80.545 con gia cầm; 3.708 thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất chế biến nông nghiệp... với hơn 26.000 hộ dân được thụ hưởng. Và đấy là những con số “ấn tượng” về công tác chỉ đạo, triển khai, thực hiện hợp phần hỗ trợ sản xuất trong Chương trình 135 trên địa bàn tỉnh. Thế nhưng khi thăm thực tế từng gia đình, mô hình chúng tôi mới hiểu... sự thật không thật “ấn tượng” như những con số đề cập trên.

 

Nhóm hộ ông Lý A Gâu, bản Huổi Anh, xã Tênh Phông được hỗ trợ máy tuốt lúa, nhưng quá cồng kềnh, không phù hợp với tình hình sản xuất của gia đình.

Cùng đoàn giám sát của Ban Dân tộc (HĐND tỉnh) đến thăm và kiểm tra hiệu quả sau đầu tư tại xã Tênh Phông, huyện Tuần Giáo, chúng tôi nhận thấy các mô hình hỗ trợ người dân từ hợp phần hỗ trợ sản xuất không những không phát huy hiệu quả mà cũng chẳng đúng với nguyện vọng của người dân. Theo số liệu thống kê sơ bộ của UBND xã Tênh Phông, trong số 29 con bò hỗ trợ nông dân hiện có 5 con bị chết, những con còn lại chưa sinh sản, ngày càng gầy đi; các thiết bị máy móc chưa phát huy hiệu quả, nhiều hộ được hỗ trợ máy xát thóc nhưng bản lại chưa có điện lưới quốc gia nên máy không sử dụng được; hay là thực trạng máy được cấp quá to, cồng kềnh trong khi người dân chủ yếu sản xuất trên nương nên mỗi lần cần sử dụng máy là cả một vấn đề. Nói về bất cập này, nhóm hộ ông Lý A Gâu, bản Huổi Anh, xã Tênh Phông, cho biết: “Máy tuốt lúa được cấp không phù hợp với điều kiện sản xuất trên nương. Vì máy thì to, cồng kềnh trong khi nương lại ở xa nên mỗi lần đến vụ thu hoạch chúng tôi phải tháo từng bộ phận của máy và huy động 3 người với 3 xe máy để chở máy lên nương”.

Không chỉ vậy, việc hỗ trợ sản xuất còn bộc lộ tính mùa vụ, trước mắt, bởi mỗi khi thu hoạch xong người dân lại “cụt” vốn không còn nguồn tiếp tục thực hiện mô hình giảm nghèo thì sao nói đến được giảm nghèo bền vững. Ví như trường hợp gia đình anh Sùng A Sinh, thôn Loọng Phạ, xã Mường Đun, huyện Tủa Chùa. Năm 2016, anh Sinh được hỗ trợ 45 con gà lai chọi nhưng quá trình nuôi một số con bị chết, số còn lại đến khi được bán chỉ đủ tiền mua thuốc thú y, thóc, ngô trong thời gian nuôi. Khi bán hết gà hỗ trợ thì anh Sinh hết vốn, gia đình khó có thể thoát nghèo và khó có thể nhân rộng được mô hình.

Đồng tình với ý kiến của người thụ hưởng, ông Bùi Minh Hải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (đại diện cơ quan hướng dẫn thực hiện Chương trình 135/CP), còn chỉ rõ, việc hỗ trợ cây, con giống, máy móc trong hợp phần hỗ trợ phát triển sản xuất chưa phù hợp với nguyện vọng của bà con. Dẫn chứng ý kiến này, ông Bùi Minh Hải phân tích: Các xã, như: Rạng Đông, Phình Sáng ở Tuần Giáo có điều kiện tự nhiên, địa hình khác hẳn một số xã của huyện Tủa Chùa nhưng việc hỗ trợ giống ngô lại cùng một mô tuýp. Nghĩa là cứ đến vụ ngô hàng năm thì người dân các xã này lại được hỗ trợ giống ngô VN10 trong khi giống ngô này hiện đã được chứng minh không còn phù hợp bởi năng suất thấp hơn nhiều so với các giống ngô khác. Vì vậy, mới xảy ra tình trạng người được hỗ trợ đem ngô về nhưng không sử dụng mà tự mua các giống ngô khác về trồng. Như vậy việc hỗ trợ giống ngô vừa không “trúng” nguyện vọng người dân lại vừa gây lãng phí nguồn đầu tư của Nhà nước. Vấn đề vì sao lại xảy ra thực trạng này cũng được ông Bùi Minh Hải, chỉ rõ là do địa phương không tổ chức họp thôn, bản để khảo sát nhu cầu, nguyện vọng của người dân mà chỉ hỗ trợ mang tính chất “cào bằng”, chia đều cho các hộ. Ở một số huyện còn có tình trạng sau khi giao cho UBND các xã làm chủ đầu tư là “phó mặc” cho xã, làm ảnh hưởng tiến độ, chất lượng dự án.

Theo ước tính của cơ quan chuyên môn, thực hiện Chương trình 135/CP và nông thôn mới, mỗi năm một hộ sẽ được hỗ trợ khoảng 34 triệu đồng, đó là chưa kể đến các chương trình hỗ trợ khác, như: Chương trình 120, 755, Nghị quyết 30a... thì trung bình một năm mỗi hộ sẽ được hỗ trợ gần 100 triệu đồng. Thế nhưng sau 4 năm thực hiện, tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện, các xã vẫn chưa giảm so với kỳ vọng; nhiều địa phương không đánh giá được hiệu quả của chương trình. Bởi thế nên ngay cả khi có đoàn giám sát về thì các huyện Tủa Chùa, Mường Ảng, Điện Biên Đông... cũng chỉ báo cáo các số liệu: những năm qua thực hiện được bao nhiêu mô hình, hỗ trợ bao nhiêu máy móc... cho người dân, mà không chỉ ra được có bao nhiêu hộ thoát nghèo từ nguồn vốn hỗ trợ của Chương trình 135. Do vậy nên khi nói hiệu quả sau đầu tư vẫn chỉ là... ước đạt thì kể cũng là rất có lý!

Để khắc phục thực trạng trên và để phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư của Nhà nước, phù hợp với nguyện vọng của người thụ hưởng, thiết nghĩ, cần có một đánh giá cụ thể về hiệu quả cách làm của từng huyện, từng xã; huyện nào làm tốt, huyện nào chưa tốt; xã nào hiệu quả xã nào không và nguyên nhân vì sao, để từ đó rút kinh nghiệm cho từng huyện từng xã. Có như vậy mới mong khắc phục thực trạng làm chính sách “cào bằng”, triển khai chung chung và kết quả cũng chung chung, tương đối...

Kỳ 2: Cớ sao huyện phải làm thay?

Văn Tâm
Bình luận