Lệch chuẩn chương trình chất lượng cao - Bài 1: Chạy đua mở ngành chất lượng cao

15:59 - Thứ Tư, 04/03/2020 Lượt xem: 2248 In bài viết

Chủ trương thí điểm đào tạo chương trình tiên tiến rồi đến chương trình chất lượng cao (CLC) khởi đầu từ năm 2006. Có thể nói, khi chính sách học phí của chúng ta quá thấp thì chương trình CLC là hướng đi đúng để đảm bảo chất lượng đào tạo, trong bối cảnh cạnh tranh của nền kinh tế tri thức. 

Song, qua một thời gian, chương trình CLC đang bộc lộ nhiều khiếm khuyết; thậm chí cách làm lệch chuẩn của nhiều cơ sở đào tạo đã khiến dư luận cho rằng chương trình không còn thực sự là CLC, và muốn đậu vào chương trình này thì không cần điểm cao mà chỉ cần có tiền nhiều là được.

Hiện nay, từ trường đại học (ĐH) công lập (kể cả 23 trường ĐH công lập tự chủ) cho đến ĐH tư thục đều đua nhau tuyển sinh, đào tạo chương trình CLC. Song dường như việc chạy đua mở ngành, kiếm chỉ tiêu chủ yếu là để giải quyết bài toán tài chính hơn là quan tâm đến vấn đề chất lượng, như đúng tên gọi vốn có của chương trình này. 

Chương trình “hot”  

Năm 2006, chương trình tiên tiến là dự án quốc gia do Bộ GD-ĐT chủ trì và triển khai thí điểm tại 10 ĐH trọng điểm của Việt Nam, nhằm quốc tế hóa chương trình đào tạo ĐH trong nước trên cơ sở chuyển giao chương trình đào tạo tiên tiến của các ĐH uy tín trên thế giới. Đến nay, chương trình tiên tiến dường như rất ít trường mặn mà, vì tuyển sinh rất khó. Thay vào đó, chương trình CLC lại là thị trường rất “hot”. Tại rất nhiều trường, số lượng chương trình CLC và chỉ tiêu cho hệ CLC chiếm gần 50% so với chương trình đại trà.

Trường ĐH Tài chính Marketing TPHCM năm 2012 chính thức tuyển sinh chương trình CLC và chỉ có 300 chỉ tiêu. Thế nhưng đến nay, trong 11 ngành đào tạo (chưa nói tới chuyên ngành) của trường thì có đến 5 ngành tuyển chương trình CLC. Chỉ tiêu tuyển sinh hệ CLC của trường này năm nay cũng đã chiếm ngót nghét gần 1/3 tổng chỉ tiêu. Nếu xét về tổng quy mô sinh viên toàn trường thì hệ CLC hiện chiếm hơn 1/4.

Là một trong số 10 trường được chọn thí điểm cho chương trình CLC, PGS-TS Đỗ Văn Dũng, Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TPHCM, chia sẻ: “Trường được Bộ GD-ĐT cho thí điểm đào tạo chương trình CLC từ năm 2006. Trong những năm đầu, việc tuyển sinh chương trình này rất khó khăn. Khái niệm CLC trong giáo dục còn khá lạ lẫm đối với phụ huynh, sinh viên và cả dư luận xã hội. Một số ngành của trường không tuyển đủ số sinh viên tối thiểu để mở lớp. Tuy nhiên, nhà trường vẫn kiên định trong chính sách chất lượng, thực hiện những cam kết của chương trình đối với người học. Dần dần, chương trình đã có một chỗ đứng, trở thành một trong những lựa chọn của sinh viên nhờ chất lượng vượt trội. Tính đến năm học 2019-2020, nhà trường đang đào tạo 17 chương trình CLC trong tổng số 39 chương trình đào tạo, chiếm tỷ lệ gần 44%. Các chương trình CLC thuộc những ngành đào tạo thế mạnh của nhà trường”.

Sinh viên hệ chất lượng cao Trường Đại học Kinh tế - Luật (ĐH Quốc gia TPHCM) trong giờ học lý thuyết.

Tại Trường ĐH Giao thông Vận tải TPHCM, hệ đại trà có 16 ngành thì hệ CLC cũng có tới 12 ngành. Với Trường ĐH Tôn Đức Thắng, chương trình tiêu chuẩn (hệ đại trà) có 39 ngành và hệ CLC có đến 26 ngành, chia thành 2 loại: CLC song ngữ Anh - Việt (17 ngành), CLC tiếng Anh (9 ngành). Trường ĐH Công nghiệp TPHCM có 33 ngành chương trình đại trà và 16 ngành chương trình CLC...

Hiện nay, từ các trường ĐH tốp đầu như 2 ĐH Quốc gia Hà Nội và TPHCM, ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Kinh tế quốc dân, ĐH Ngoại thương cho đến các ĐH địa phương, thậm chí cả ĐH tư thục, cũng tuyển sinh chương trình CLC, với chỉ tiêu ngày càng tăng. 

Tuyển nhiều, nguồn thu sẽ tăng

Ngoài 23 trường ĐH công lập tự chủ (giai đoạn 2015-2017), các trường ĐH công lập còn lại thu học phí theo đúng quy định tại Nghị định 86 của Chính phủ đối với các mức cụ thể theo từng nhóm ngành. Tuy nhiên, mức học phí này thật sự khiến các trường thiếu trước hụt sau vì chi phí đào tạo thực tế vượt xa rất lớn. Chính vì vậy, chương trình CLC như là “giải pháp tháo gỡ khó khăn”, được hợp thức hóa bằng Thông tư 23/2014 của Bộ GD-ĐT quy định về đào tạo CLC trình độ ĐH. 

Có lẽ điểm mấu chốt chính là khoản 3, Điều 4 của Thông tư 23, quy định: “Các trường được xác định mức học phí trên cơ sở tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo cho toàn khóa học; xây dựng lộ trình điều chỉnh mức học phí cho những khóa học tiếp theo (nếu cần thiết); xây dựng phương án thu, chi và quản lý kinh phí để đảm bảo thực hiện đầy đủ các tiêu chí của chương trình CLC (bao gồm cả miễn, giảm học phí cho sinh viên thuộc diện chính sách được nhận hỗ trợ tài chính của Nhà nước); thực hiện trích lập các quỹ theo quy định hiện hành đối với phần chênh lệch thu chi còn lại”. Chính vì vậy, các trường phải suy nghĩ mọi cách cho có chương trình CLC để tuyển sinh.

Thử nhìn qua mức học phí (năm học 2019-2020) của chương trình đại trà và chương trình CLC sẽ thấy được vì sao các trường lại chạy đua tuyển sinh chương trình CLC như hiện nay.

Tại Trường ĐH Tài chính Marketing TPHCM, chương trình đại trà học phí 18,5 triệu đồng/năm, chương trình CLC là 36,3 triệu đồng/năm; Trường ĐH Luật TPHCM chỉ tiêu chương trình CLC không hề công bố (trên Cổng thông tin Tuyển sinh của Bộ GD-ĐT), học phí hệ đại trà là 17,5 triệu đồng/năm, còn chương trình CLC là 43,75 triệu đồng/năm; Trường ĐH Kinh tế TPHCM có 8/17 ngành là chương trình CLC, mức học phí hệ đại trà 18,5 triệu đồng/năm, chương trình CLC là 32 - 40 triệu đồng/năm (tùy từng ngành). Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TPHCM học phí hệ đại trà 16,5 - 18,5 triệu đồng/năm, hệ CLC bằng tiếng Việt 27 - 28 triệu đồng/năm, hệ CLC bằng tiếng Anh 30 triệu đồng/năm…

Thạc sĩ Phùng Quán, Trưởng phòng Thông tin và Truyền thông Trường ĐH KHTN (ĐH Quốc gia TPHCM), cho biết: “Ở các trường ĐH công lập, tổng chi phí đào tạo trung bình một sinh viên khoảng 15 - 20 triệu đồng/năm, trong khi học phí hiện nay của các trường khoảng 8 - 11 triệu đồng/năm (theo Nghị định 86). để đủ kinh phí đào tạo cũng như nâng cao chất lượng đào tạo, các trường triển khai tuyển sinh và đào tạo các chương trình theo đề án dựa trên sự tự nguyện của người học; nhà trường đảm bảo thực hiện các cam kết về chất lượng đào tạo, các quyền lợi về hoạt động chuyên môn, cơ sở vật chất, điều kiện lớp học… tương ứng với mức học phí mà người học chi trả”.

P.V (Theo SGGP)
Bình luận
Back To Top